Book Review: Grit – Sức mạnh của đam mê và kiên trì
Tên sách: Grit – The Power of Passion and PerseveranceTác giả: Angela Duckworth, giáo sư tâm lý học tại UPennNăm xuất bản: 2016#bookreview #grit
Mình biết đến tác giả thông qua TED Talk của Cô năm 2016:https://www.ted.com/…/angela_lee_duckworth_grit_the_power_o…
Về tác giả: http://vietnamnet.vn/…/thanh-tuu-an-tuong-cua-nu-gs-thuyet-…
Khi Cô ra sách thì mình mua về nhưng chưa đọc hết. Để trên kệ hai năm thì tuần này mình mới lấy ra đọc. Sau khi đọc xong, mình mới hiểu ra tại sao mình cảm thấy giai đoạn học đại học mình lại thua kém rất nhiều so với giai đoạn học cấp 3 và ôn thi đại học. Hy vọng bài review này sẽ giúp các bạn ở mức độ nào đó.
Trong xã hội có rất nhiều người xuất chúng ở đủ mọi lĩnh vực. Nếu không được tiếp xúc với họ, chúng ta có cảm giác họ là những thần đồng, những người có khả năng bẩm sinh và phi thường mà chúng ta không tài nào với tới được. Liệu chúng ta có thể đặt họ dưới kính hiển vi, mổ xẻ ra, và soi thấy lý do dẫn đến sự thiên tài của họ được hay không? Có nhiều nhà tâm lý học đã thiết kế nhiều thí nghiệm để tìm hiểu về những đặc trưng hoặc những yếu tố giúp hình thành những cá nhân kiệt xuất. Liệu họ xuất chúng có phải do tài năng (talent) hay do nỗ lực (effort) mà có? Angela Duckworth đã phát hiện ra một điều rất thú vị: không phải tài năng mà là grit mới là yếu tố quyết định sự thành công. Vậy grit là gì?
Grit, từ cổ là grytte (trang 253), là đức tính pha trộn giữa đam mê và kiên trì.
Cuốn sách được chia thành 3 phần:Phần 1: Giới thiệu về gritCon người thành công là do tài năng hay nổ lực? Một khảo sát cho thấy người Mỹ nói rằng nổ lực quan trọng gấp 5 lần so với tài năng. Tuy nhiên, khi đánh giá một ai đó hay một công trình, người ta lại đề cao những người tài năng tự nhiên (natural) hơn là những người nổ lực đạt được (striver). Đây là một sự thiên vị cho tính bẩm sinh (naturalness bias). Giống như người Việt Nam mình thường khen tấm tắt đứa nào chơi nhiều, ít học bài, mà lúc nào cũng điểm cao; còn đứa nào mà suốt ngày học gạo thì bị chê là giỏi nhờ siêng năng chứ có tài gì.
Nói gọn là: tài năng —> thành tựu.
Tuy nhiên, Duckworth cho rằng: Nổ lực giúp tài năng biến thành kỹ năng, và lại chính nổ lực giúp biến kỹ năng thành thành tựu. Như vậy, nổ lực chiếm gấp đôi tài năng. Cô nhấn mạnh rằng để đạt được điều đó thì con người phải có nổ lực và cam kết gắn bó với nổ lực một cách xuyên suốt và nhất quán chứ không phải hứng lên mới làm. Nếu bạn từng thức trắng đêm để làm đồ án và cảm thấy hiệu suất công việc của nguyên học kỳ nằm trọn trong đêm đó, thì đó không phải là grit. Grit không phải là cường độ bạn làm việc, mà là sức bền bỉ của bạn. Nếu hàng tháng hay hàng năm trời bạn đều làm như vậy mà không biết chán và mệt thì mới được gọi là grit.
Grit, tài năng, hay tính cách đều bị chi phối bởi gene cũng như môi trường. Đặc biệt là grit thay đổi khi môi trường sống chúng ta thay đổi, và chúng ta trở nên grit nhiều hơn khi chúng ta trưởng thành.
Vậy làm thế nào để có grit? Có 2 cách xây dựng grit: xây grit từ chính nội tải bản thân mình và xây grit nhờ môi trường xung quanh.
Phần 2: Xây dựng grit từ bên trong
Giai đoạn 1: Xây dựng sở thích
Thường ba mẹ hay người thân hay gợi ý/ép buộc con cái học/làm những nhóm ngành nghề mà người lớn cho là danh giá nhất (bác sĩ, luật sư). Nhưng, các nghiên cứu tâm lý chỉ ra rằng con người thoả mãn hơn nếu được làm ngành nghề đúng với sở thích các nhân, và khi làm đúng ngành thì con người làm việc hiệu quả hơn rất nhiều. Cái khó là làm sao mình biết mình thích gì! Khoảng khắc chúng ta biết mình thích gì không phải là một giây phút giác ngộ giữa lúc đang trải nghiệm điều gì mới, mà có khi mình phải làm việc đó nhiều tháng/nhiều năm đến độ ăn ngủ cũng nghĩ đến nó thì chúng ta mới biết đó thực sự là sở thích của mình. Nói cách khác, sở thích không phải là tạm thời mà là một quá trình va chạm lâu dài.
Bước 1 (khám phá): Hãy trải nghiệm mọi thứ mà chúng ta thấy mới. Đây là lúc chúng ta chơi là chính. Nếu lúc nào mà mình bị ép buộc phải làm cái này cái kia là rất mau chán, nên các bậc cha mẹ không nên ép con cái. Nói cách khác, bạn sẽ không thể khám phá ra sở thích của mình chỉ bằng cách ngồi và suy nghĩ (introspection) mà phải đi khám phá thế giới, cọ xát, và trải nghiệm.Bước 2 (phát triển): Chủ động cọ xát và trải nghiệm nhiều hơn nữa cho công việc hay trò chơi mà bạn thích. Càng lâu càng tốt.Bước 3 (đào sâu): tìm hiểu đến tận cùng những gì mới mẽ của công việc hay trò chơi ấy. Mới mẽ ở đây có hai nghĩa: 1) với người bình thường thì bất cứ cái gì bạn chưa gặp lần nào đã là mới mẽ, nhưng 2) với nhà chuyên môn thì chỉ cần một điểm dị thường nho nhỏ so với bình thường cũng đã là mới mẽ. Điều quan trọng nữa là bạn phải có gia đình và người thân hỗ trợ để giúp bạn phát triển. Chung quy lại, nếu ba mẹ không cho con học bơi ở nhà văn hoá thiếu nhi thì con bạn sẽ không hề biết rằng bơi rất vui và có khi lại trở thành vua bơi lội như Michael Phelps.

Giai đoạn 2: Luyện tậpLuyện tập phải đúng cách, đó là luyện tập cần mẫn (deliberate practice) theo lý thuyết của Anders Ericsson [Malcolm Gladwell gọi là “Quy tắc 10,000 giờ” trong cuốn “Những Kẻ Xuất Chúng” (Outliers)].Vậy luyện tập cần mẫn là gì?Bước 1: nắm rõ tính khoa học của luyện tập cần mẫn: 1. đặt ra một mục tiêu cụ thể, càng cụ thể càng tốt 2. dành thời gian luyện tập mỗi ngày3. nhờ người thân hay bạn bè đánh giá những mặc chưa đạt (feedback)4. làm đi làm lại và phải liên tục tự đánh giá và tự cải tiến để hoàn thiện
Bước 2: biến quy trình trên thành một thói quen hằng ngày. Lúc này, bạn không cần phải bỏ thời gian ra suy nghĩ ngày mai mình nên làm gì cả. Bạn chỉ thực thi những gì mình đã làm suốt từ trước tới giờ.
Bước 3: thay đổi cách mà bạn trải nghiệm. Thay vì cảm thấy xấu hổ/sợ hãi vì mình làm sai, bạn hãy xem mỗi lần thất bại là một thử thách để mình vượt qua. Lúc đó, luyện tập cần mẫn trở nên kỳ diệu và thú vị.