Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam - Vietnam Wealth Advisors (VWA) |...
MỘT SỐ CÔNG THỨC DÙNG ĐỂ PHÂN TÍCH RỦI RO CẦN LƯU Ý KHI GIAO DỊCH
Có thể một số thuật ngữ này khá quen thuộc với nhiều bạn học & làm tài chính cũng như ở thị trường lâu năm. Nhưng một số bạn mới mình nghĩ khá lạ lẫm mới chức năng một số thuật ngữ này nên chia sẽ bài này hy vọng chúng ta cùng hiểu đúng từ đó áp dụng hợp lý
- Standard Deviation - Std (độ lệch chuẩn)
- Là phương pháp phổ biến nhất để đo lường sự thay đổi về hiệu suất tài sản đầu tư. Chỉ số này dùng để tính toán lợi tức trung bình của một tài sản/danh mục đầu tư trong một khoảng thời gian so với mức trung bình
- Standard Deviation chia 2 phần: Cumulative và Annualized. Ví dụ bạn tính được độ lệch trung bình theo tháng của cổ phiếu A là 1%. Tính độ lệch theo quý là 1% x căn bậc 2 của 4. Tương tự theo năm = 1% x căn bậc 2 của 12
- Sharpe ratio: thường dùng đo lường tổng rủi ro của danh mục đầu tư vì nó đo lường cả 2 yếu tố là lợi nhuận và rủi ro
- Ví dụ tính Sharpe ratio của danh mục A theo năm = (APR – RFR)/StdAPR
- APR: lợi nhuận hàng năm của danh mục A
- RFR: Risk free-rate. Risk free rate thường lấy lãi suất của trái phiếu chính phủ
- StdAPR: Độ lệch chuẩn tính theo năm của danh mục đầu tư.
- Nếu bạn tính được Sharpe Ratio = 0.4. Có nghĩ là mỗi 1% rủi ro của danh mục, lợi nhuận đạt được là 0.4%
- M2 ratio
- Công thức này do nhà kinh tế Franco Modigliani, người đã đạt giải Nobel tạo ra. Mục đích tương tự Sharpe Ratio, để đo lường hiệu quả của danh mục đầu tư hay quỹ thực hiện tốt tế nào sau khi điều chỉnh rủi ro
- Treynor Ratio = (APR – RFR)/StdAPR
- Tương tự như Sharpe ratio. Chỉ khác là thay độ lệch chuẩn cho chỉ số Beta
- Thay vì Sharpe ratio đo lường tổng rủi ro của danh mục đầu tư, Treynor Ratio đo lường rủi ro của hệ thống (thị trường)
- Correlation Matrix
- Value at Risk (VaR)